Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về nêu cao tinh thần trách nhiệm, chống chủ nghĩa cá nhân, nói đi đôi với làm
DANH SÁCH ĐỀ TÀI- SKKN

STT Nội dung chi tiết
1 Hướng dẫn HS sử dụng BĐTD để củng cố bài học môn Địa lí 10 Năm học: 2012-2013
2 RÈN LUYỆN KĨ NĂNG HỌC SINH TIẾP CẬN LỊCH SỬ QUA TƯ LIỆU
3 MỘT VÀI PHƯƠNG PHÁP GÂY HỨNG THÚ CHO NHỮNG HỌC SINH YẾU HỌC MÔN TIẾNG ANH
4 Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm trong giảng dạy môn GDCD lớp10 ở trường THPT
5 SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 10
6 Nâng cao kết quả giải bài tập biện luận số nghiệm của phương trình bằng đồ thị.
7 Rèn luyện kĩ năng đọc sách để nâng cao kết quả học tập môn Ngữ văn
8 Nâng cao chất lượng dạy học môn Hóa học thông qua các dạng bài tập củng cố
9 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ MÔN THỂ DỤC THỂ THAO
10 TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC MÔN VẬT LÍ 10
10 QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC
 

MỞ ĐẦU

 

1.  Lí do chọn đề tài:

Bước vào thế kỷ XXI cùng với sự bùng nổ của khoa học, công nghệ, sự phát triển nhanh về kinh tế, xã hội và xu thế hội nhập của thế giới, việc đổi mới nội dung, chương trình đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với các hoạt động dạy học. Phát triển giáo dục và đào tạo được xác định là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người. Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt.

Trong giáo dục phổ thông có 2 loại hình quản lý: quản lý hệ thống và quản lý nhà trường. Trong đó, quản lý nhà trường là hạt nhân cơ bản, bởi lẽ nhà trường là “rường cột” của hệ thống giáo dục quốc dân. Đây chính là nơi trực tiếp thực hiện quá trình cung cấp kiến thức và hình thành những nhân tố căn bản của nhân cách con người và chất lượng đầu ra quyết định sự tồn tại của nhà trường.

Dạy tốt là điều kiện và tiền đề để học tốt. Người thầy giáo có vai trò quyết định đến chất lượng dạy học. Giáo viên, thông qua các hoạt động giảng dạy và giáo dục góp phần cung cấp những kiến thức cơ bản cần thiết cho học sinh. Đồng thời, cũng chính giáo viên là người có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hình thành nhân cách đối với học sinh.

Để thực hiện được mục tiêu trên điều cần thiết là phải “Đổi mới quản lý giáo dục. Đổi mới cơ bản về phương thức quản lý giáo dục theo hướng nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước, phân cấp mạnh mẽ nhằm phát huy tính chủ động và tự chịu trách nhiệm của các địa phương, của các cơ sở giáo dục, giải quyết một cách có hiệu quả các vấn đề bức xúc, ngăn chặn và đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực hiện nay”(Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010. NXB Giáo dục, trang 33)

Theo Luật giáo dục 2005 trong đó không có loại hình trường Bán công. Tuy nhiên trên thực tế loại hình của trường này vẫn còn tồn tại ở nhiều tỉnh, thành phố và trường THPT BC Trần Bình Trọng cũng là một trong 5 trường bán công ở tỉnh Phú Yên. Vậy căn cứ vào những cơ sở pháp lý nào để thực hiện chức năng quản lý? Làm thế nào phát huy có hiệu quả nguồn lực để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường? Làm cách nào để các thầy cô an tâm công tác và đem hết tâm huyết của mình để giảng dạy trong điều kiện kinh phí của trường gặp nhiều khó khăn? Làm thế nào để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện học sinh trong khi đầu vào quá thấp .... rất nhiều vấn đề đang đặt trên vai của hiệu trưởng. Chất lượng dạy học, sự tồn tại, phát triển của nhà trường tuỳ thuộc rất nhiều vào định hướng, biện pháp quản lý và sự sáng tạo của hiệu trưởng.

Trong quản lý chúng ta đều biết rằng mọi điều không hẳn là cố định hay bất biến. Các khía cạnh thuận và nghịch cũng thường thường chuyển hoá lẫn nhau. Một đội ngũ thầy giáo có trình độ cao, là nhân tố mạnh của nhà trường nhưng nếu không biết quản lí để họ ganh đua, đố kị nhau thì lại kiềm chế sự phát triển của đơn vị. Nếu có biện phát quản lý hoạt động dạy học tốt sẽ kích thích sự tìm tòi sáng tạo giáo viên, học sinh thì chất lượng sẽ nâng lên, uy tín của trường  của nhà trường sẽ nâng cao. Muốn làm được điều này người hiệu trưởng phải biết lấy điểm mạnh đẩy lùi những khó khăn khách quan, các nguy cơ. Làm cho nhà trường thích nghi với những hoàn cảnh, tìm ra cơ hội phát triển. Xuất phát từ những yêu cầu của xã hội và thực tế đơn vị đòi hỏi người hiệu trưởng phải “thay đổi sự quản lý  để “quản lý sự thay đổi”.

2. Mục đích nghiên cứu:

          Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng trường THPT BC Trần Bình Trọng.

3. Khách thể và Đối tượng nghiên cứu:

3.1. Khách thể nghiên cứu: Quản lý hoạt động dạy học.

3.2. Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng trường THPT BC Trần Bình Trọng, xã Hoà Thắng, huyện Phú Hoà, tỉnh Phú Yên

4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu đề tài:

- Không gian: Nghiên cứu tại trường THPT BC Trần Bình Trọng ở xã  Hoà Thắng, huyện Phú Hoà, tỉnh Phú Yên

- Thời gian: Từ năm 2008 đến 2010.

- Khách thể khảo sát: Các kế hoạch, chỉ đạo thực hiện quy chế chuyên môn, các số liệu thống kê kết quả và chất lượng dạy và học

5. Giả thuyết khoa học:

Nếu các biện pháp quản lý hoạt động dạy và học được tiến hành theo hướng tích cực, thường xuyên phù hợp với điều kiện thực tế của loại hình trường bán công sẽ phát huy năng lực giảng dạy của giáo viên, tạo điều kiện để học sinh học tập tích cực, sáng tạo hơn góp phần nâng cao chất lượng dạy học

6. Nhiệm vụ nghiên cứu:

6.1. Về mặt lý luận:

- Tìm hiểu và hệ thống hoá một số vấn đề về hoạt động dạy học ở trường THPT

- Xây dựng cơ sở lí luận của quản lí hoạt động dạy học.

- Xây dựng các biện pháp quản lí hoạt động dạy học một cách khoa học và hiệu quả.

6.2. Khảo sát thực trạng:

Công tác quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng trường THPT BC Trần Bình Trọng

6.3. Mục đích đề tài nghiên cứu:

Đề xuất một số biện pháp để tăng cường công tác quản lý về hoạt động dạy học của hiệu trưởng trường THPT BC Trần Bình Trọng để góp phần nâng cao chất lượng dạy học

7. Phương pháp nghiên cứu:

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:

          Tham khảo các tài liệu có liên quan đến hoạt động dạy học của loại hình trường THPT, về công tác quản lý giáo dục; các văn bản pháp quy của Đảng, Nhà nước, Bộ GD-ĐT, Sở GD-ĐT  chỉ đạo thực hiện dạy và học.

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiển:

·        Điều tra qua giáo viên của trường (phiếu điều tra, trao đổi trực tiếp, xem giáo án, dự giờ).

·        Điều tra học sinh của trường (trao đổi trực tiếp, phân tích các sản phẩm học tập, các bài kiểm tra, hoạt động của học sinh).

·        Tìm hiểu qua học sinh của 2 trường THPT Trần Quốc Tuấn và Trường THPT Trần Suyền đóng trên địa bàn huyện.

·        Xem và phân tích các hồ sơ lưu trữ của trường: kế hoạch năm, kế hoạch tháng, báo cáo tổng kết hàng năm, biên bản họp, báo cáo thống kê chất lượng dạy học...

·        Phương pháp toạ đàm: Với CBGV trường THPT BC Trần Bình Trọng, tham khảo ý kiến của các hiệu trưởng trường THPT trên địa bàn huyện và tỉnh, các nhà giáo lão thành.


Chương I:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ TRONG  QUẢN LÝ

 HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC

 

1.1 CÁC KHÁI NIỆM:

1.1.1 Quản lí:

Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý thông qua các cơ chế quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả cao nguồn lực trong điều kiện môi trường biến động để hệ thống ổn định, phát triển, đạt được những mục tiêu đã định.

Quản lý có 4 chức năng cơ bản bao gồm: Kế hoạch hoá; Tổ chức; Chỉ đạo và Kiểm tra.

Vậy quản lý để làm gì? Nó có vai trò và tác dụng thế nào?

- Quản lý nhằm tạo sự thống nhất ý chí trong tổ chức.

- Định hướng sự phát triển của tổ chức trên cơ sở xác định mục tiêu chung và hướng mọi nổ lực của các cá nhân vào mục tiêu đó.

- Tổ chức, điều hoà, phối hợp và hướng dẫn hoạt động của các cá nhân trong tổ chức, tạo sự ổn định nhằm đạt mục tiêu quản lý.

- Tạo động lực cho mọi cá nhân trong tổ chức.

- Tạo môi trường và điều kiện cho sự phát triển cá nhân và tổ chức, đảm bảo phát triển ổn định, bền vững và hiệu quả

1.1.2 Hoạt động dạy học:

Dạy học là một hệ thống toàn vẹn các yếu tố tác động qua lại lẫn nhau. Các yếu tố này gồm thầy và hoạt động dạy, trò và hoạt động học, mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp tổ chức và kết quả dạy học. Giữa các yếu tố này có mối quan hệ mật thiết với nhau trong một môi trường kinh tế, chính trị xã hội và văn hoá nhất định.

Hoạt động dạy là hoạt động của thầy tổ chức và điều khiển hoạt động của trò nhằm giúp học sinh lĩnh hội nền văn hoá xã hội, tạo ra sự phát triển tâm lý, hình thành nhân cách học sinh.

Hoạt động học là hoạt động của học sinh nhằm lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những hành vi và những dạng hoạt động, những giá trị nhất định.

Hoạt động dạy học trong nhà trường là một quá trình thuận nghịch thống nhất giữa hai hoạt động: hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò. Trong quá trình đó, chức năng của thầy là tổ chức và điều khiển hoạt động của trò, chức năng của trò là chiếm lĩnh nền văn hoá, tri thức của xã hội.

Chất lượng học được xem là sản phẩm đầu ra sau một quá trình tác động có chủ đích của hoạt động dạy học. Sản phẩm của quá trình dạy học đối mỗi môn học thể hiện số lượng đơn vị kiến thức theo yêu cầu môn học mà học sinh nắm được ở các mức độ nhận thức (nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá); đồng thời cũng biểu hiện ở kỹ năng và thái độ của học sinh sau khi có được những vốn kiến thức môn học.

Tác động của quá trình dạy học bao gồm nhiều yếu tố dựa trên một hệ điều kiện từ đời sống kinh tế, trình độ dân trí, cơ sở vật chất, chương trình, nội dung sách giáo khoa, chất lượng đầu vào, đội ngũ giáo viên và quản lý dạy học.

1.1.3. Quản lí hoạt động dạy học

Quản lí hoạt động dạy học là tổ chức, chỉ đạo giáo viên và học sinh thực hiện quá trình dạy học theo các yêu cầu và qui luật nhằm đạt được mục tiêu dạy học.

1.2. CÁC NỘI DUNG CƠ BẢN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC

- Xây dựng kế hoạch dạy học năm học

- Hoàn thiện cơ cấu tổ chức, thực hiện có hiệu quả kế hoạch dạy học năm học

- Chỉ đạo việc thực hiện mục tiêu, chương trình dạy học

- Chỉ đạo xây dựng nề nếp dạy học

- Chỉ đạo tổ chuyên môn tổ chức các hoạt động bồi dưỡng năng lực sư phạm cho giáo viên

- Chỉ đạo tổ chuyên môn, giáo viên, giáo viên chủ nhiệm, các tổ chức Đoàn, Đội, Hội cha mẹ học sinh hướng dẫn hoạt động học của học sinh theo chức năng của mình

- Chỉ đạo tổ chuyên môn tiến hành hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học và thực hiện kế hoạch dạy học năm học

- Chỉ đạo việc đổi mới phương pháp dạy học, thực hiện chủ đề năm học.

Quá trình dạy học là quá trình bảo đảm cùng một lúc ba sự thống nhất:

+ Thống nhất giữa dạy và học;

+ Thống nhất giữa truyền đạt với chỉ đạo trong dạy;

+ Thống nhất giữa lĩnh hội và tự chỉ đạo trong học.

1.3. CÁC NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC

1.3.1. Nguyên tắc tập trung dân chủ

Tập trung phải dựa trên dân chủ, dân chủ phải được thực hiện trong khuôn khổ tập trung. Đây là nguyên tắc cơ bản trong quản lí phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể quản lý (hiệu trưởng) và đối tượng quản lí (giáo viên và học sinh). Cụ thể:

- Trong xây dựng kế hoạch phải căn cứ vào nhiệm vụ cụ thể của ngành và có sự tham gia ý kiến của các tổ chức đoàn thể, hội, tổ trưởng chuyên môn đặc biệt là của giáo viên, học sinh.

- Khi tổ chức thực hiện cần huy động sự tham gia một cách tích cực sáng tạo của giáo viên, học sinh và các lực lượng xã hội.

- Trong kiểm tra và đánh giá kết quả hoạt động DH&GD cần lắng nghe ý kiến từ học sinh, phụ huynh, giáo viên, của ngành và chính quyền địa phương.

1.3.2. Nguyên tắc kết hợp hài hoà các lợi ích

- Động lực của quản lí là lợi ích. Phải đảm bảo sự kết hợp hài hoà giữa các lợi ích, trong đó lợi ích của giáo viên (là động lực trực tiếp), đồng thời phải chú ý đến lợi ích học sinh (coi là xuất phát điểm), của nhà trường và của xã hội.

1.3.3. Sử dụng toàn diện các phương pháp quản lí, kết hợp các phương pháp hành chính, tâm lí giáo dục và kinh tế, coi trọng phương pháp kinh tế

Các phương pháp hành chính: là phương pháp dựa vào quyền uy quản lý để bắt buộc người dưới quyền phải chấp hành mệnh lệnh. Với phương pháp này nhằm thiết lập các mối quan hệ hợp lí giữa các cấp quản lí và khâu quản lí, giữa tập trung và phân cấp, giữa quyền hạn và trách nhiệm của mỗi thành viên trong đơn vị.

Phương pháp tâm lí giáo dục là sự tác động của hiệu trưởng đến CBGV  và học sinh thông qua các quan hệ tâm lí, tư tưởng, tình cảm: sự công nhận, khả năng thăng tiến, sự thành đạt, sự thách thức, tinh thần trách nhiệm...nhằm tạo động cơ thúc đẩy mọi cá nhân hăng hái làm việc, học tập.

Phương pháp kinh tế là phương pháp lấy lợi ích vật chất làm động lực thúc đẩy con người hành động. Các lợi ích được phân phối theo nguyên tắc làm theo năng lực hưởng theo lao động. Người quản lí điều phối hợp lí giữa lợi ích xã hội, tập thể và cá nhân, lợi ích giữa các cá nhân với nhau.

1.3.4. Nắm bao quát, chú ý toàn diện, tập trung xử lí khâu yếu

Người hiệu trưởng từ sự phân tích và nắm bắt tình thế của đơn vị, tìm ra các khâu xung yếu, các vấn đề then chốt, các công việc cấp bách để tập trung giải quyết có hiệu quả và dứt điểm.

Ví dụ: Đối với trường THPT BC Trần Bình Trọng vấn đề thứ nhất nợ thừa giờ tồn đọng kéo dài, ảnh hưởng tâm lý giảng dạy của giáo viên. Vấn đề thứ hai là chất lượng đầu vào thấp, khả năng tự học, hạnh kiểm học sinh đa phần yếu kém sẽ dẫn đến tỉ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp THPT, ĐH-CĐ thấp. Vậy cần phải tập trung giải quyết dứt điểm các khoản nợ tồn đọng và tăng cường chỉ đạo công tác giáo dục học sinh và nâng cao chất lượng dạy học.

1.3.5. Nguyên tắc hiệu quả

Nguyên tắc này qui định mục tiêu quản lí, gồm hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Hiệu quả quản lí giáo dục được nhìn nhận từ 2 góc độ:

-

HiÖu qu¶ qu¶n lÝ gi¸o dôc

HiÖu qu¶ trong

HiÖu qu¶ ngoµi

KÕt qu¶ häc tËp

H¹nh kiÓm

 

C«ng d©n

Thµnh viªn cña gia ®×nh

Sù thµnh ®¹t trong nghÒ nghiÖp vµ cuéc sèng

Kh¶ n¨ng häc tËp suèt ®êi

Từ góc độ cá nhân:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

-Từ góc độ nhà trường:

Hiệu quả quản lí giáo dục

Hiệu quả trong

Hiệu quả ngoài

QUI MÔ

Chất lượng

Cộng đồng, xã hội

Kinh nghiệm cho toàn ngành

Số lượng người học

  1. Dạy học
  2. Nhân cách
  1. Nhân lực
  2. Dân trí
  3. Nhân tài
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


1.4. ĐẶC ĐIỂM CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC

§       Mang tính chất quản lí hành chính sư phạm

-       Tính chất hành chính: Quản lí theo pháp luật, dựa vào những nội qui, qui chế, các văn bản hướng dẫn của cấp trên, của trường.

-       Tính chất sư phạm: Chỉ sự qui định của các qui luật quá trình dạy học, diễn ra trong môi trường sư phạm, lấy quá trình dạy học làm đối tượng quản lí  

§       Mang tính chất đặc trưng của khoa học quản lí

-       Quản lí hoạt động dạy học theo chu trình quản lí và thực hiện các chức năng quản lí

-       Quản lí hoạt động dạy học trên cơ sở vận dụng sáng tạo các nguyên tắc và phương pháp quản lí

-       Có tính xã hội hoá cao

§       Hiệu quả của quản lí quá trình dạy học được tích hợp trong kết quả đào tạo và thể hiện qua các chỉ số

-       Số lượng học sinh đến trường, duy trì sĩ số, tốt nghiệp hay hoàn thành cấp học

-       Chất lượng giáo dục: Chất lượng giáo dục được đánh giá chủ yếu về hai mặt là học lực và xếp loại kết quả rèn luyện của học sinh

-       Sự phát huy tác dụng kết quả giáo dục đối với xã hội.

1.5. CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC

Luật Giáo dục số 38/2005/QH11 ngày 14/6/2005 có nêu “Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường ...” (Điều 54 khoản 1); “Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động khác theo mục tiêu, chương trình giáo dục; xác nhận hoặc cấp văn bằng, chứng chỉ theo thẩm quyền” (Điều 58).

Điều lệ trường phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số: 07/2007/QĐ-BGD ĐT ngày 02/4/2007 có quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của hiệu trưởng: “Xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường; Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học; Quản lý giáo viên, nhân viên; quản lý chuyên môn; phân công công tác kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên, nhân viên; thực hiện công tác khen thưởng, kỉ luật đối với giáo viên, nhân viên theo quy định của Nhà nước; quản lý hồ sơ tuyển dụng giáo viên, nhân viên; Quản lý học sinh và các hoạt động của học sinh do nhà trường tổ chức; xét duyệt kết quả đánh giá, xếp loại học sinh ...; Quản lý tài chính, tài sản của nhà trường; Thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đối với giáo viên, nhân viên, học sinh; tổ chức thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường; thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục của nhà trường; Chịu trách nhiệm trước cấp trên về toàn bộ các nhiệm vụ được quy định.” (Điều 19- khoản 1)

Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư: “Hoàn thiện cơ chế quản lý theo hướng tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động dạy học, nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp của nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, phân công, phân cấp hợp lý giữa các cấp, các ngành, các cơ quan về trách nhiệm, quyền hạn quản lý nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục”. Chỉ thị còn nhấn mạnh: “Đặc biệt đổi mới mạnh mẽ và cơ bản phương pháp giáo dục nhằm khắc phục kiểu truyền thụ một chiều, nặng lý thuyết, ít khuyến khích tư duy sáng tạo, bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tự giải quyết vấn đề, phát triển năng lực thực hành sáng tạo cho người học ... Tích cực áp dụng một cách sáng tạo các phương pháp tiên tiến, hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động dạy và học. Đổi mới chương trình, giáo trình phương pháp dạy và học trong các trường, khoa sư phạm các trường cán bộ quản lý giáo dục nhằm đáp ứng kịp thời những yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông và công tác quản lý Nhà nước về giáo dục”

Để tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động dạy học hiệu trưởng căn cứ Pháp lệnh cán bộ, công chức; Nghị Định số 35/2005/NĐ-CP của Chính phủ về việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, Nghị Định số 49/2005/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục.

Để động viên khích lệ CBGV thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học áp dụng Thông tư số 03/2005/TT-BNV của Bộ nội vụ hướng dẫn thực hiện chế độ nâng bậc lương thường xuyên và nâng bậc lương trước thời hạn đối với cán bộ, công chức, viên chức; Nghị định 121/2005/NĐ-CP : “Qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng” của Chính phủ ...

Trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật hiệu trưởng xây dựng quy chế làm việc của lãnh đạo trường và của giáo viên, nhân viên.

* TIỂU KẾT CHƯƠNG I:

Hiện nay, hệ thống quản lý nói chung và quản lý giáo dục nói riêng đang trong giai đoạn đổi mới mạnh mẽ. Đối tượng tác động của các phương pháp quản lý trong nhà trường cũng đang có sự chuyển biến nhanh chóng về nhận thức và tâm lý.

Hoạt động dạy học không phải là công việc riêng lẻ của mỗi cá nhân. Hiệu quả giáo dục mang lại không phải chỉ là của người quản lý mà dựa vào sự nổ lực của toàn thể CBGV NV và học sinh của trường. Để nâng cao chất lượng, trong quản lý người hiệu trưởng cần phải rất chú trọng các phương pháp và nguyên tắc quản lý và khơi nguồn động lực, để mọi thành viên của trường tham gia vào công việc chung, đem hết trí tuệ nhằm " Đào tạo thế hệ trẻ thành những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng vừa chuyên".


CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THPT BC TRẦN BÌNH TRỌNG

 

2.1. VÀI NÉT VỀ TRƯỜNG THPT BC TRẦN BÌNH TRỌNG - HUYỆN PHÚ HOÀ - TỈNH PHÚ YÊN

Trường THPT BC Trần Bình Trọng được thành lập theo Quyết định số: 253/QĐ-UB ngày 31/01/2001 của UBND tỉnh Phú Yên. Đây là một ngôi trường mới gần quốc lộ 25 thuộc xã Hòa Thắng. Huyện Phú Hòa là một huyện thuần nông được thành lập theo Nghị định số 15/2002/NĐ-CP ngày 31/01/2002 của chính phủ tách ra từ Thị xã Tuy Hoà (nay là Thành phố Tuy Hoà) và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 04/03/2002 nhưng công tác giáo dục và các cơ sở giáo dục đào tạo trên địa bàn huyện đã hình thành và phát triển từ rất lâu đời. Điều kiện kinh tế của toàn huyện còn nhiều khó khăn, nguồn thu nhập chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp.

Đội ngũ CBGV cơ hữu của trường hiện nay có 33 người đạt chuẩn về trình độ, phần lớn tuổi nghề trẻ, năng động, nhạy bén và có trình độ về tin học, dễ thích ứng với sự đổi mới giáo dục. Do tuổi nghề trẻ nên kinh nghiệm giảng dạy, năng lực chuyên môn có phần hạn chế và xử lý các tình huống sư phạm đôi lúc chưa thoả đáng.

Học sinh của trường hàng năm khoảng 19 ® 22 lớp với số lượng học sinh xấp xỉ 1000, rải rác trên khắp địa bàn huyện. Theo chỉ đạo ngành, trường không tổ chức thi tuyển mà nhận tất cả học sinh không đủ điểm xét tuyển ở 02 trường công lập đóng trên địa bàn của huyện (có điểm thi tuyển từ 0 đến 2,5 điểm/môn) hoặc có học lực, hạnh kiểm đạt từ trung bình trở lên và được công nhận tốt nghiệp THCS thì được xét vào học tại trường. Với cơ chế tuyển sinh như vậy nên chất lượng đầu vào của học sinh rất thấp so với học sinh ở các trường công lập. Nguồn chi lương và các hoạt động khác của trường chủ yếu dựa vào học phí do học sinh đóng góp theo quy định của Hội đồng nhân dân tỉnh Phú Yên. Mức thu thực hiện từ năm 2001 đến 2007 là từ 70.000 đến 80.000đ/tháng/hs, thu theo khung học phí áp dụng từ năm 2008 đến nay là 70.000 ® 250.000đ/tháng/hs. Với mức thu học phí khá thấp theo quy định trước năm 2007, kết hợp qua nhiều lần cải cách tiền lương nên việc giải quyết chế độ và các quyền lợi chính đáng cho giáo viên không kịp thời, nợ tồn đọng kéo dài đã ảnh hưởng đến tâm lý giáo viên và chất lượng giảng dạy của giáo viên. Nhưng nếu thu cao học sinh không đủ điều kiện học tập, bỏ học nhiều ảnh hưởng việc duy trì sĩ số học sinh. Đây là điều hạn chế và cũng là sự khác biệt giữa loại hình trường bán công và trường công. Những vấn đề trên đã gây không ít khó khăn cho việc chỉ đạo, điều hành của người quản lý trong trường bán công.

Về giáo viên lực lượng cơ hữu của trường ít (chiếm tỉ lệ 1,65 GV/lớp), để đảm bảo hoạt động dạy học trường phải hợp đồng thêm giáo viên thỉnh giảng. Như vậy, hiệu trưởng phải quản lý giáo viên cơ hữu và cả giáo viên thỉnh giảng.

Về CSVC: Trường THPT BC Trần Bình Trọng có 12 phòng học, 02 phòng thí nghiệm, 02 phòng vi tính, 01 phòng giảng dạy GAĐT, chỉ đủ cho việc giảng dạy chính khóa. Nhưng do thực hiện theo chương trình phân ban với nhiều hoạt động giáo dục dạy rãi, các phòng chức năng phục vụ TNTH... Cơ sở vật chất không đủ đáp ứng cho việc dạy và học.

2.2. THỰC TRẠNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC

2.2.1. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC CỦA TRƯỜNG THPT BC TRẦN BÌNH TRỌNG - HUYỆN PHÚ HOÀ - TỈNH PHÚ YÊN

* Hoạt động dạy của giáo viên

- Tất cả giáo viên của trường đều tốt nghiệp đại học nhưng trình độ, năng lực không đồng đều, qua kiểm tra đánh giá toàn diện giáo viên từ năm 2008 đến 2009 có khoản 58% giáo viên đạt loại tốt. Các thầy cô giáo đã có nhiều cố gắng trong việc tìm hiểu để nắm bắt và thực hiện yêu cầu đổi mới của chương trình, sách giáo khoa, về phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra đánh giá, sử dụng thiết bị ... Tuy nhiên chỉ thực hiện theo hình thức, phong trào. Trong giảng dạy còn nặng về thuyết trình, diễn giảng (vì sợ học sinh không hiểu) khiến giờ dạy nặng nề, chưa hấp dẫn lôi cuốn học sinh, một số giáo viên ngại khó, chưa tổ chức cho các em làm thí nghiệm, thực hành để các em phát hiện, khám phá tri thức; việc hướng dẫn phương pháp tự học cho học sinh vẫn chưa được giáo viên quan tâm đúng mức.

- Một số giáo viên tuy nắm được chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình các môn học, nhưng do chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của chuẩn kiến thức và không bám sát chuẩn trong giảng dạy, nên dẫn đến tình trạng quá tải đối với học sinh trong học tập, kiểm tra, đánh giá kết quả. Làm cho học sinh đã yếu càng yếu thêm.

- Trong quá trình tổ chức hoạt động dạy, một số thầy cô chưa có khả năng bao quát, quản lý hết các đối tượng học sinh. Chưa tận dụng có hiệu quả thời lượng giảng dạy trên lớp. Trong kiểm tra đánh giá còn chậm đổi mới, chưa có biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế học sinh yếu kém và tạo sự hứng thú cho học sinh học tập.

- Một số giáo viên cho rằng vì trình độ của học sinh yếu nên không có khả năng sáng tạo. Do đó không mạnh dạn nâng kiến thức trên chuẩn.

- Trong hoạt động dạy chưa sát đối tượng, liên hệ thực tế đia phương và phát huy tính tích cực của học sinh.

* Hoạt động học của học sinh

- Chất lượng đầu vào thấp, lỗ hỏng kiến thức lớn, do vậy các em thiếu tự tin, tư tưởng luôn trông chờ vào ngoại lực. Biểu hiện ở chỗ ỷ lại vào thầy quá nhiều, rụt rè và sợ phát biểu sai; khả năng tiếp thu và tái hiện kiến thức chậm. Do vậy, nếu giáo viên không khích lệ, tạo điều kiện thì các em rất thụ động.

- Trong hoạt động học, học sinh không được tự làm thí nghiệm, một số chủ đề tự chọn chưa thực sự phù hợp với khả năng học tập của học sinh yếu nên kiến thức hời hợt khi phải vận dụng vào các trường hợp cụ thể thì lúng túng, sai lầm.

 

* NGUYÊN NHÂN:

+ Chủ quan:

- Năng lực dạy học của một số giáo viên còn hạn chế, ở chỗ:

+ Chưa hiểu học sinh trong quá trình dạy học (thể hiện ở chỗ xác định khối lượng kiến thức đã có, mức độ, phạm vi lĩnh hội của học sinh, chưa bám sát chuẩn kiến thức, làm nổi bật, khắc sâu chuẩn kiến thức.)

+ Tầm hiểu biết còn hạn chế (thể hiện sự liên hệ giữa kiến thức cũ và mới, giữa môn này với môn khác, liên hệ vận dụng bài học vào cuộc sống)

+ Khả năng chế biến tài liệu học tập chưa cao (Nêu tình huống vào bài, hệ thống câu hỏi, việc tổ chức và điều khiển các hoạt động còn rời rạc ...)

+ Chưa nắm vững kỹ thuật dạy học (tổ chức và điều khiển nhận thức của học sinh, phát huy hiệu quả các thiết bị, đồ dùng dạy học hiện có.)

+ Năng lực ngôn ngữ còn hạn chế (chưa sâu sắc về nội dung, giản dị về hình thức)

- Đối với học sinh năng lực học yếu kém, chịu ảnh hưởng nặng nề của cách học thụ động. Những điều mà học sinh có được sau mỗi bài học không phải là kết quả của sự hoạt động tích cực, tự lực (hoạt động trí tuệ, hoạt động chân tay) để chiếm lĩnh kiến thức. Nên kiến thức hời hợt, khi vận dụng dễ mắc sai lầm.

+ Khách quan

- Do thiếu phòng học bộ môn, phòng thí nghiệm, việc cấp phát thiết bị đôi lúc không kịp thời hoặc chưa đồng bộ để thực hiện nội dung, chương trình.

- Giải quyết lương và các và các quyền lợi chính đáng khác cho giáo viên chưa kịp thời.

ð Kết quả học lực và tỉ lệ học sinh tốt nghiệp THPT, đại học, cao đẳng thấp.

 

2.2.2. THỰC TRẠNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG THPT BC TRẦN BÌNH TRỌNG - HUYỆN PHÚ HOÀ - TỈNH PHÚ YÊN

            - Đầu năm học theo các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của ngành về thực hiện nhiệm vụ năm học. Hiệu trưởng có xây dựng kế hoạch năm học, chỉ đạo phó hiệu trưởng chuyên môn xây dựng kế hoạch chuyên môn cả năm và kế họach tháng để các tổ, nhóm chuyên môn căn cứ vào đó xây dựng kế hoạch tổ, nhóm. Tuy kế hoạch được xây dựng nhưng thiếu kiểm tra đôn đốc, ít tham gia dự giờ, công tác kiểm tra, đánh giá giáo viên chưa kịp thời,thiếu chặt chẽ do vậy thiếu nguồn thông tin ngược để rút kinh nghiệm giảng dạy hoặc nương nhẹ, dễ dãi trong đánh giá thực hiện nhiệm vụ của giảng dạy và giáo dục của giáo viên.

          - Chưa phát huy vai trò quản lý chuyên môn của tổ trưởng, nhóm trưởng. Việc thực hiện công tác kiểm tra đánh giá giáo viên còn dàn trãi, chưa nhấn mạnh điều gì là quan trọng nhất để giáo viên cần phải đầu tư.

          - Chưa phát huy hết vai trò, trách nhiệm của GVCN lớp.

          - Chưa ưu tiên hay huy động nguồn lực tập trung cho việc dạy và học.

Khách quan: Do trong những năm đầu thực hiện chương trình phân ban, việc chỉ đạo, triển khai thực hiện phân ban, giảng dạy các tiết tự chọn, tích hợp trong giảng dạy ở các bộ môn, tổ chức các hoạt động giáo dục, thực hiện kế hoạch dạy học 37 tuần, dạy học 2 buổi/tuần chưa có sự chỉ đạo cụ thể nên hiệu trưởng không khỏi lúng túng trong điều hành, đôi khi phó mặc cho bộ phận quản lý chuyên môn thực hiện mà chưa có sự phối hợp chặt chẽ và sự linh động, sáng tạo để phù hợp với điều kiện hoàn cảnh đơn vị và khả năng học tập của học sinh.

2.3. ĐÁNH GIÁ NHỮNG ƯU ĐIỂM, HẠN CHẾ CỦA BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG THPT BC TRẦN BÌNH TRỌNG - HUYỆN PHÚ HOÀ - TỈNH PHÚ YÊN

* Ưu điểm:

Có xây dựng kế hoạch dạy học, chỉ đạo các tổ trưởng chuyên môn căn cứ kế hoạch thực hiện.

Huy động được các nguồn lực bên ngoài để thực hiện xã hội hoá giáo dục, phát triển cơ sở vật chất của trường. Tạo điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao chất lượng dạy học.

* Hạn chế và nguyên nhân:

+ CHỦ QUAN:

- Quản lý mới chỉ mang tính hình thức, chưa có sự kiểm tra cụ thể, sâu sát, chưa phát huy sức mạnh nội lực. Xử lý sai phạm của CBGV đôi khi còn nặng về tình cảm.

- Chưa đi sâu phân tích số liệu các kết quả giảng dạy để tìm ra nguyên nhân để từ đó tập trung xử lý khâu yếu nhất

- Việc sắp xếp giáo viên giảng dạy mỗi khối lớp không đảm bảo sự hài hoà giữa thầy cô có thâm niên và những thầy cố giáo trẻ, để xây dựng được kế hoạch bồi dưỡng, chia sẽ kinh nghiệm giảng dạy. Chưa tạo điều kiện và mạnh dạn phát huy năng lực đội ngũ giáo viên trẻ.

- Việc chỉ đạo thực hiện chương trình, phân phối tiết dạy chưa khoa học, thực hiện chia thời khóa biểu thường xuyên xáo trộn hoạt động dạy học.

+ KHÁCH QUAN:

- Chưa đáp ứng quyền lợi chính đáng cho GV để kích thích sự cống hiến.

- Việc cung cấp thiết bị, dụng cụ thí nghiệm thực hiện chưa kịp thời.

- Số học sinh trong một lớp học khá đông, gây khó khăn cho việc quản lý học sinh và thực hiện theo cách “Dạy học phân hoá”.

TIỂU KẾT CHƯƠNG II:

Chất lượng dạy học quyết định sự tồn tại của nhà trường. Để nâng cao chất lượng cần có biện pháp quản lý hợp lý, cơ sở vật chất đảm bảo và một đội ngũ giáo viên có đầy tâm huyết, có trách nhiệm với nghề và quan trọng là dạy thế nào để học sinh “thích học”. Với điều kiện thực tế không đảm bảo hiệu trưởng cần phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu, huy động nội lực để vượt qua khó khăn, thách thức trước mắt.

Khi trao đổi về việc xây dựng đội ngũ, kĩ năng sư phạm nhà giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: "Giáo dục phải theo hoàn cảnh, điều kiện", "Một chương trình nhỏ mà thực hành được hẳn hoi còn hơn một trăm chương trình lớn mà không làm được". Đây chính là yêu cầu đòi hỏi người thầy giáo phải có phương pháp giảng dạy phù hợp với điều kiện cụ thể của từng trường, của từng lớp, từng học sinh. Tuy chất lượng đầu vào thấp nhưng nếu có sự quản lý tốt, phương pháp dạy học phù hợp sẽ giúp các em “ý thức hơn, tự tin hơn, thích học hơn” đó là tiền đề để nâng cao chất lượng dạy học của trường. Nâng chuẩn trình độ đào tạo là vấn đề lâu dài. Trước mắt cần thực hiện bồi dưỡng thường xuyên và tự bồi dưỡng để đảm bảo đội ngũ đáp ứng tốt thực hiện mục tiêu, chương trình để chất lượng giảng dạy ngày hôm nay cao hơn ngày hôm qua và học sinh năm nay hơn hẳn học sinh những năm trước.


CHƯƠNG III

ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG THPT BC TRẦN BÌNH TRỌNG

 

3.1. NGUYÊN TẮC ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP:

            * Bảo đảm tính kế thừa

          * Bảo đảm tính phát triển

          * Bảo đảm tính khả thi

          * Bảo đảm tính đồng bộ

3.2. CÁC BIỆN PHÁP ĐỀ XUẤT:

Để nâng cao chất lượng học tập của học sinh hiệu trưởng Trường THPT BC Trần Bình Trọng cần tăng cường quản lí hoạt động dạy học theo chu trình quản lí và thực hiện đầy đủ các chức năng quản lí làm cho trạng thái nhà trường chuyển nhanh vào sự "Chuẩn hoá", "Hiện đại hoá". Để làm được việc đó cần phải quan tâm một số nội dung sau:

Một là: Tập trung mọi nguồn lực cho việc dạy và học đây chính là nhiệm vụ trọng tâm quyết định sự tồn tại của nhà trường. Hiệu trưởng trường cần đề ra các biện pháp huy động cộng đồng, tăng cường điều kiện cơ sở vật chất, tài chính phục vụ hoạt động dạy học và đảm bảo các quyền lợi chính đáng cho cán bộ, giáo viên, công nhân viên.

Hai là: Phải tăng cường công tác tự kiểm tra đánh giá chất lượng dạy học và xem đây là một việc làm thường xuyên, có nề nếp, có tính chủ động để thực sự trở thành nhân tố nội sinh thúc đẩy sự phát triển bền vững. Xây dựng kế hoạch dạy học, chia thời khóa biểu thực hiện chương trình phải hợp lý, ổn định.

Ba là: Thường xuyên tổ chức bồi dưỡng năng lực chuyên môn cho giáo viên. Tập trung chỉ đạo đổi mới về phương pháp ở giáo viên. Coi trọng việc thực hiện vận dụng, tổ chức hình thức dạy học linh hoạt theo hướng tích hợp: vừa bồi dưỡng học sinh giỏi để tạo nguồn nhân lực chất lượng, vừa nâng cao việc học đại trà, giúp các em đạt chuẩn kiến thức và kỹ năng theo qui định, đặc biệt cá thể hoá đối tượng học sinh yếu kém, có kế hoạch phụ đạo cho từng em để đạt chuẩn kiến thức.

Bốn là: Đánh giá học sinh công bằng, khách quan. Kiên quyết không cho học sinh không đủ chuẩn lên lớp hoặc dự thi tốt nghiệp THPT. Đánh giá thực chất sẽ tạo được động lực nâng cao chất lượng dạy và học. Chú trọng việc phản hồi thông tin về kết quả giảng dạy của từng tổ, từng giáo viên, từng học sinh trong mỗi năm học.

     Năm là: Hiệu trưởng phải thực thiện tốt việc phân cấp quản lý, phát huy vai trò của các tổ trưởng chuyên môn. Thực hiện các chế độ, quyền lợi kinh tế cho tổ trưởng, nhóm trưởng chuyên môn (giảm tiết và thực hiện chế độ phụ cấp) phối hợp cùng lãnh đạo trường kiểm tra giáo viên theo kế hoạch đã định và kiểm tra đột xuất.

Sáu là: Huy động các lực lượng đoàn thể tham gia giám sát việc thực hiện nề nếp kỷ cương, giờ giấc làm việc gắn liền với các phong trào thi đua, tổ chức sơ tổng kết để đánh giá kiểm điểm rút kinh nghiệm, khen thưởng những điển hình tích cực trong dạy học. Chú trọng việc phản hồi thông tin về kết quả giảng dạy của từng tổ, từng giáo viên, từng học sinh trong mỗi năm học. Qua kiểm tra có nhận xét, đánh giá, điều chỉnh kịp thời các sai sót và căn cứ cơ sở đó để bình xét, đánh giá thi đua cuối năm.

Bảy  là: Cần quan tâm xây dựng chế độ sử dụng giáo viên hợp lí và cải thiện điều kiện làm việc của GV, tạo điều kiện cho GV không ngừng nâng cao trình độ, pháp triển năng lực chuyên môn, nghiệp vụ.

Tám là: Xây dựng môi trường thân thiện. Tạo điều kiện thuận lợi để phát huy khả năng sáng tạo cũng như giúp học sinh phát triển tư duy.

3.2.1. Chỉ đạo xây dựng kế hoạch dạy học

Xây dựng kế hoạch là dạy học là đề ra mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ về sự phát triển định ra những phương tiện cơ bản để thực hiện có hiệu quả hoạt động dạy học. Nói một cách đơn giản, xây dựng kế hoạch là quyết định trước xem sẽ phải làm cái gì, làm như thế nào, khi nào làm và ai sẽ làm cái đó.

Khi xây dựng kế hoạch cần phải trả lời 4 câu hỏi:

- Chúng ta đang ở đâu?

- Chúng ta muốn đến đâu?

- Chúng ta đến đó bằng cách nào?

- Làm thế nào ta biết ta đã tới nơi?

Để xây dựng kế hoạch dạy học cần căn cứ vào các văn bản của Đảng, Nhà nước ban hành, điều kiện thực tế của địa phương và nhiệm vụ trọng tâm của ngành hàng năm.

Trong kế hoạch này đi sâu vào các mặt dạy-học cùng các biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo phù hợp với các chủ trương chỉ đạo của ngành. Tuy nhiên, để thực hiện các nhiệm vụ kế hoạch năm học, nó cần được cụ thể hoá thành các kế hoạch tháng, tuần; kế hoạch một số hoạt động chính (dạy và học trên lớp; tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp; lao động sản xuất, hướng nghiệp; công tác chủ nhiệm ...) và theo phạm vi trách nhiệm, mỗi cá nhân cần phải xây dựng kế hoạch của mình. Thực chất đây là sự cụ thể hoá, là sự phân công thực hiện các nhiệm vụ kế hoạch của nhà trường.

Ví dụ: năm học 2008-2009 nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục phổ thông là: “Năm học ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới quản lý tài chính và triển khai phong trào xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”; Tiếp tục thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, thực hiện cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “ Chống tiêu cực trong thi cử và khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục”.

Trong kế hoạch chú trọng nhiệm vụ trọng tâm, những khâu yếu của đơn vị để tập trụng chỉ đạo khắc phục. Đề ra các chỉ tiêu phấn đấu cụ thể và biện pháp thực hiện cho mỗi hoạt động, tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá. Chủ yếu là đề xuất các giải pháp để thực hiện dựa trên điều kiện cơ sở vật chất và tài chính của trường. Trong hoạt động dạy học thì mục tiêu chủ yếu là: Duy trì sĩ số học sinh, nâng cao chất lượng học, tăng tỉ lệ học sinh khá, giỏi, tăng tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp THPT và Đại học-Cao đẳng.

Nội dung kế hoạch phải toàn diện, cân đối, nêu được nhiệm vụ trọng tâm,  nhiệm vụ ưu tiên theo mục tiêu quản lý nhà trường,

Để chỉ đạo xây dựng kế hoạch hoạt động dạy học cho năm 2008-2009 Hiệu trưởng đề ra những nhiệm vụ sau:

1. Về công tác tư tưởng: Tiếp tục quán triệt đầy đủ các Nghị quyết của Đảng, các cuộc vận động của ngành, nhiệm vụ, quyền hạn của CBGV NV và học sinh. Nhấn mạnh những khâu yếu của đơn vị, những nhiệm vụ trọng tâm cần giải quyết trước mắt và lâu dài (Đảm bảo kinh phí chi trả lương và đáp ứng các quyền lợi chính đáng cho CBGV. Tập trung mọi nguồn lực để nâng cao chất lượng dạy và học). Những vấn đề cần trao đổi, cần phối hợp và những yêu cầu đối với mỗi tổ chức, đoàn thể và cá nhân thực hiện để tăng cường công tác kiểm tra giám sát và kủ cương trường học. (Quy chế dân chủ, Quy chế phối hợp, nề nếp dạy học...)

2. Công tác lãnh đạo: Tăng cường vai trò lãnh đạo của chi bộ, của lãnh đạo đơn vị, phối hợp chặt chẽ với tổ chức Công đoàn, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, các tổ chức hội trong trường học. Củng cố hoạt động của ban Thanh tra nhân dân. Phát huy vai trò của các nhóm trưởng, tổ trưởng trong công tác chuyên môn, nghiệp vụ. Vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong việc phối hợp với gia đình và nhà trường trong công tác giáo dục toàn diện cho học sinh. Thực hiện nghiêm Pháp lệnh Công chức, Qui chế dân chủ, qui chế phối hợp trong nhà trường. Để từ từ đó chuyển từ Nghị quyết thành những hành động cụ thể và huy động sức mạnh tập thể để giải quyết các nhiệm vụ của đơn vị.

3. Công tác bồi dưỡng CBGV: Tiếp tục tạo điều kiện về kinh phí để  CBGV-NV được đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ Ngoại ngữ, Tin học, thiết kế giáo án điện tử. Tổ chức bồi dưỡng thường xuyên cho lực lượng giáo viên trẻ, tạo điều kiện để họ tham dự thao giảng, hội thi giáo viên dạy giỏi, thay sách giáo khoa hàng năm do các cấp và đơn vị tổ chức.

4. Công tác xây dựng CSVC: Cần huy động các nguồn kinh phí (của ngành, chính quyền địa phương và hội CMHS) để tăng cường CSVC TB trường học. Xây dựng các quy định, quy chế, quy trình quản lý, sử dụng, sửa chữa và bảo quản cơ sở vật chất – kỹ thuật để đáp ứng yêu cầu dạy học.

                  

* Công tác chỉ đạo:

 - Tiếp tục thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, chú trọng dạy học phân hoá, tăng cường việc dạy lý thuyết gắn với việc sử dụng thiết bị đồ dùng dạy học, Thực hiện đầy đủ các tiết thí nghiệm thực hành. Các nhóm, tổ chuyên môn xây dựng ngân hàng đề kiểm tra. Thực hiện nghiêm túc Qui chế kiểm tra và yêu cầu đổi mới về công tác kiểm tra, đánh giá nhằm phản ánh đúng thực chất việc giảng dạy và học tập.

- Khai thác và sử dụng có hiệu quả các cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện có để dạy học, phải để từng học sinh được hưởng thụ chất lượng nhận thức do các phương tiện đó mang lại. Sử dụng và phát huy hiệu quả các thiết bị, ĐDDH phòng thí nghiệm, phòng LAB, máy tính, máy projector, hệ thống mạng internet..., sách tham khảo, sách giáo khoa.

- Chú trọng việc giúp đỡ học sinh yếu, kém. Bằng tình cảm yêu thương thật sự của người thầy có sự động viên, khích lệ để các em thay đổi nhận thức, thái độ, tạo động cơ học tập và rèn luyện để các em học tập chăm chỉ và tiến bộ.

- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý: nhân sự, học sinh, thư viện, tài sản, thiết bị ... và giảng dạy, nghiên cứu.

- Tiếp tục xây dựng cảnh quan xanh-sạch-đẹp, môi trường giáo dục lành mạnh và văn minh, không có học sinh sai phạm.

- Tiếp tục củng cố mối quan hệ giữa nhà trường- gia đình và xã hội. Phối hợp chặt chẽ Hội CMHS trong công tác giáo dục toàn diện cho học sinh. Thống nhất mở lớp dạy tăng cường để củng cố kiến thức cho học sinh. Kêu gọi tinh thần trách nhiệm ý thức CBGV, tổ chức phụ đạo cho học sinh yếu, kém....

- Tiếp tục cải tiến và đổi mới công tác thi đua nhằm tạo ra động lực phát triển trong nhà trường, chống bệnh thành tích trong thi đua.

- Thực hiện tốt việc quản lý tài chính. Thu, chi học phí và ngân sách đúng qui định. Thực hành tiết kiệm và chống lãng phí trong sử dụng tài chính, tài sản. Đảm bảo thu đủ bù chi và có tích luỹ để phát triển.

3.2.2. Quản lý mục tiêu, nội dung, chương trình:

3.2.2.1. Quản lý mục tiêu

Mục tiêu giáo dục THPT: “Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp cho học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.” (khoản 4 - Điều 27 Luật Giáo dục 2005)

Như vậy mục tiêu giáo dục THPT đã định rõ các phẩm chất và năng lực cần phải phát triển cho học sinh nhằm trước hết đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực trong giai đoạn phát triển kinh tế xã hội của đất nước, để đến năm 2020 đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp.

3.2.2.2 Quản lý nội dung:

Nội dung giáo dục THPT: “ Giáo dục THPT phải củng cố, phát triển  những nội dung đã học ở trung học cơ sở, hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông; ngoài nội dung chủ yếu nhằm đảm bảo chuẩn kiến thức phổ thông, cơ bản toàn diện và hướng nghiệp cho mọi học sinh còn có nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh.”(khoản 1 - Điều 28 Luật Giáo dục 2005).

Hiện nay nội dung chương trình giáo dục phổ thông khá nặng về kiến thức, sách giải bài tập khá nhiều. Ví dụ như môn toán có nhiều phần của chương trình đại học đưa xuống. Học sinh không làm nổi, các em phải chép từ trong sách giải, nghĩa là học vẹt, cứ chép mà không hiểu gì cả. Chương trình Vật lý lớp 10 quá nặng so với lớp 11 và 12. Chương trình tin học lớp 11 lại đưa vào phần Pascan lập trình điều chỉ phù hợp với các chuyên viên vi tính ...

Tuy sách giáo khoa viết khá nhiều nội dung nhưng trong giảng dạy giáo viên cần phải thực hiện tốt các yêu cầu sau:

- Đảm bảo tính chính xác khoa học (Khoa học bộ môn và quan điểm tư tưởng; lập trường chính trị)

- Đảm bảo tính hệ thống, đủ nội dung, làm rõ trọng tâm.

- Liên hệ thực tế (nếu có); có tính giáo dục

- Sử dụng và kết hợp tốt các phương tiện, thiết bị dạy học phù hợp với nội dung của kiểu bài lên lớp

- Trình bày bảng hợp lý, chữ viết, hình vẽ, lời nói rõ ràng, chuẩn mực; giáo án hợp lý.

- Thực hiện linh hoạt các khâu lên lớp, phân phối thời gian hợp lý ở các phần, các khâu.

- Lấy chuẩn kiến thức, chuẩn kỹ năng làm nền tảng. Không gây quá tải đối với học sinh.

- Với những bài dạy thí nghiệm thực hành, phải khắc phục khó khăn, thực hiện đầy đủ, để rèn luyện kỹ năng khắc sâu kiến thức cho học sinh.

- Qua tiết dạy đa số học sinh hiểu bài; nắm vững trọng tâm, biết vận dụng kiến thức

Để quản lý nội dung hiệu trưởng cần tổ chức lao động một cách khoa học và xây dựng phong cách mới thể hiện ở chỗ:

+ Dân chủ trong quản lý.

+ Tôn trọng nhân cách giáo viên.

+ Phân biệt rõ quyền hạn và trách nhiệm của từng thành viên trong nhà trường. Thực hiện phân cấp mạnh mẽ phát huy vai trò của lực lượng tổ trưởng, nhóm trưởng chuyên môn.

+ Tôn trọng tính sáng tạo của giáo viên, đồng thời coi trọng tinh thần hợp tác trong nhà trường.

Hiệu trưởng phải có kế hoạch để chủ động tham gia tiếp tục hoàn thiện và cụ thể hoá những nội dung và tổ chức thực hiện trong thực tế, đặc biệt đối với các hoạt động giáo dục, các nội dung chương trình gắn với địa phương, chỉ đạo và tổ chức một số chủ đề tự chọn, một số bài giảng cụ thể ...

3.2.2.3 Quản lý chương trình:

Chương trình là một kế hoạch hành động sư phạm, kết nối mục tiêu giáo dục với các lĩnh vực nội dung và phương pháp giáo dục, phương tiện dạy học, tổ chức các hoạt động dạy học và cách thức đánh giá hoạt động kết quả học tập của học sinh.

Chương trình giáo dục THPT: “Chương trình giáo dục phổ thông thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục phổ thông, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp mỗi cấp học của giáo dục phổ thông” (Khoản 1 - Điều 29 Luật Giáo dục 2005)

Khi thực hiện đổi mới chương trình thường đặt ra những thay đổi nhận thức và hành động của giáo viên, buộc giáo viên phải thay đổi họat động chuyên môn, gây thêm khó khăn cho giáo viên. Điều này, đòi hỏi hiệu trưởng nhà trường cần lường trước các tình huống, nghiên cứu trước và kỹ hơn những điều cần thiết, cơ bản về đổi mới chương trình, thận trọng và có cách ứng xử kịp thời trước những khó khăn của giáo viên đối với nội dung, chương trình và sách giáo khoa mới cũng như những hướng dẫn của cơ quan quản lý cấp trên trong quá trình triển khai chương trình.

Vậy hiệu trưởng phải chỉ đạo cho việc này thế nào?

Chỉ đạo phó hiệu trưởng chuyên môn và tổ trưởng các bộ môn quán triệt quan điểm mới trong chương trình và triển khai cụ thể hoá ở từng môn học:

- Giáo viên dạy phải tham gia tập huấn thay SGK do Sở GD ĐT tổ chức.

- Tổ chức hoạt động dạy học phải luôn luôn đi trước sự phát triển trí tuệ và dạy học phải xác định mức độ khó khăn, vừa sức học sinh, tạo điều kiện để phát triển tối đa những tiềm năng vốn có của các em. Từng nhóm bộ môn căn cứ chương trình khung của Bộ GD ĐT xây dựng lại chương trình giảng dạy từng lớp, từng khối phù hợp với đối tượng học sinh của trường để các em hiểu bài, thích học rồi từ đó mới nâng dần mức độ kiến thức, kỹ năng.

- Coi trọng thực hành, vận dụng tập trung vào chuẩn kiến thức, kĩ năng cơ bản thiết thực, tích hợp được nhiều mặt giáo dục.

          - Thực hiện các tiết dạy thực tế bằng hoặc nhiều hơn chương trình khung. Không được cắt xén hoặc dồn nén chương trình.

- Khắc phục sự qúa tải của nội dung chương trình bằng cách trao đổi Hội cha mẹ học sinh thống nhất tổ chức dạy tăng cường dưới sự quản lý của nhà trường hoặc của GVCN (thêm 3 tiết vào buổi sáng và một số buổi chiều).

          - Tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hướng nghiệp, học nghề, giáo dục thể chất thực hiện trái buổi học chính khoá.

3.2.3. Đổi mới phương pháp dạy học (PPDH)

Một trong những điều mong muốn của đổi mới PPDH ở THPT là đổi mới cách học của học sinh là: “ làm cho học sinh được suy nghĩ nhiều hơn, hành động nhiều hơn, hợp tác trong học tập nhiều hơn, bày tỏ ý kiến của mình nhiều hơn”. Do vậy hiệu trưởng cần quan tâm chỉ đạo:

- Một là: Tổ chức hoạt động nghiên cứu, học tập, ứng dụng lý luận, học hỏi về phương pháp dạy học mới thông qua học tập chuyên đề, tổ chức hội thảo, trao đổi kinh nghiệm, tổ chức nghiên cứu sách báo, tạp chí, nghiên cứu bài soạn, bổ trợ kiến thức trên mạng internet  ...

- Hai là: Quy định và quản lý nền nếp và chất lượng hoạt động của tổ, nhóm chuyên môn, chú trọng đổi mới sinh hoạt tổ nhóm chuyên môn: trao đổi giáo án, tìm hiểu những vấn đề khó, thảo luận cách thiết kế bài học, trao đổi các tình huống trong dạy học theo hướng đổi mới phương pháp, tổ chức dự giờ rút kinh nghiệm các tiết học theo hướng tích cực hoá và tăng cường mối quan hệ tương tác các hoạt động của học sinh.

-Ba là: Tổ chức hoạt động tham quan, trao đổi, học tập kinh nghiệm những đơn vị thực hiện đổi mới PPDH có hiệu quả.

- Bốn là: Tổ chức có định kỳ các kỳ thi tay nghề sư phạm. Mạnh dạn cử luân phiên giáo viên tham gia hội giảng cấp tỉnh. Chú trọng bồi dưỡng năng lực giáo viên trẻ.

- Năm là: Đổi mới phương pháp đánh giá hiệu quả bài học, chuyển từ chú ý đến nghệ thuật truyền thụ của giáo viên sang chú ý năng lực tổ chức các hoạt động tự lực, khám phá, sáng tạo của học sinh; khuyến khích tôn vinh những cá nhân thực hiện tốt, có hiệu quả việc đổi mới PPDH thông qua việc xây dựng chuẩn đánh giá phù hợp và sự tôn vinh về tinh thần, đãi ngộ về vật chất.

* Những yêu cầu quan trọng trong đổi mới PPDH là:

+ Phát huy tính tích cực, hứng thú trong học tập của học sinh và vai trò chủ đạo của giáo viên. Trong lớp, học sinh được phép thảo luận và nêu ra ý kiến của mình. Với một tác phẩm, các em được phát biểu là "thích" hay "không thích". Với một sự kiện, các em được thảo luận xem sự kiện đó có hợp lý không, tại sao sự kiện lại diễn ra như thế?

+ Thiết kế bài giảng khoa học, sắp xếp hợp lý hoạt động của giáo viên và học sinh, thiết kế hệ thống câu hỏi hợp lý, tập trung vào trọng tâm, tránh nặng nề quá tải (nhất là đối với bài dài, bài khó, nhiều kiến thức mới); bồi dưỡng năng lực độc lập suy nghĩ, vận dụng sáng tạo kiến thức đã học, tránh thiên về ghi nhớ máy móc không nắm vững bản chất;

+ Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, khuyến khích sử dụng hợp lý công nghệ thông tin, sử dụng các phương tiện nghe nhìn, thực hiện đầy đủ thí nghiệm, thực hành, liên hệ thực tế trong giảng dạy phù hợp với nội dung từng bài học;

+ Giáo viên sử dụng ngôn ngữ chuẩn xác, trong sáng, sinh động, dễ hiểu, tác phong thân thiện, khuyến khích, động viên học sinh học tập, tổ chức hợp lý cho học sinh làm việc cá nhân và theo nhóm;

+ Dạy học sát đối tượng, coi trọng bồi dưỡng học sinh khá giỏi và giúp đỡ học sinh học lực yếu kém.

Nội dung cơ bản của quy trình chỉ đạo đổi mới PPDH ở trường THPT theo các bước sau:

1) Bước 1: Bước chuẩn bị

- Tác động nhận thức, tạo tâm thế và điều kiện sẳn sàng tham gia đổi mới PPDH.

- Nghiên cứu và phân tích thực trạng đội ngũ giáo viên và đặc điểm đối tượng học sinh có quan hệ mật thiết với việc đổi mới PPDH.

- Đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị, đồ dùng thí nghiệm, phòng học bộ môn, tài chính, xây dựng môi tường dạy học phục vụ cho đổi mới PPDH.

- Thành lập Ban chỉ đạo đổi mới PPDH.

- Xây dựng chương trình kế hoạch hoạt động.

- Tổ chức hội thảo, trao đổi thống nhất về nhận thức và hành động.

2) Bước 2: Tổ chức chỉ đạo điểm

- Tổ chức trao đổi về một kiểu giáo án mẫu theo tinh thần đổi mới.

- Xây dựng chuẩn tiết dạy theo phương pháp đổi mới.

- Chọn đối tượng thực nghiệm (người dạy, tiết dạy, môn dạy, lớp dạy)

- Tổ chức cho đối tượng được thực nghiệm chuẩn bị tiết dạy.

- Tổ chức dự giờ đánh giá tiết dạy.

- Tổ chức rút kinh nghiệm riêng và chung cho các tiết thực nghiệm.

3) Bước 3: Chỉ đạo phát triển đại trà. Thực hiện cho tất cả các tổ chuyên môn và với tất cả giáo viên.

- Mỗi cá nhân ít nhất phải đăng ký dạy 1 tiết rồi từng bước mở rộng đến 3 tiết.

- Ban chỉ đạo phải tổ chức dự giờ, đánh giá, xếp loại và rút kinh nghiệm cần có cách động viên khuyến khích vật chất, tinh thần chung và riêng một cách hợp tình, hợp lý mọi hoạt động tích cực dù là rất nhỏ.

-Tiến hành từng bước, vững chắc, liên tục từ năm này qua năm khác và có tổng kết kinh nghiệm.

4) Bước 4: Kiểm tra, đánh giá kết quả, rút ra bài học kinh nghiệm.

- Sơ kết thi đua, khen thưởng, trách phạt.

- Tổ chức viết sáng kiến kinh nghiệm và trao đổi kinh nghiệm giữa các cá nhân, tập thể.

- Tổng kết, nêu bài học kinh nghiệm quản lý để tiếp tục thực hiện chu kỳ mới.

3.2.4. Kiểm tra - đánh giá

Đánh giá hoạt động dạy học: Trong đánh giá dạy học không chỉ đánh giá thành tích học tập của học sinh mà còn bao gồm đánh giá quá trình dạy học nhằm cải tiến quá trình dạy học. Cần bồi dưỡng những phương pháp, kỹ thuật lấy thông tin phản hồi từ học sinh để đánh giá quá trình dạy học.

Hiệu trưởng cần chỉ đạo đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá (KTĐG). Những yêu cầu quan trọng trong đổi mới KTĐG là:

+ Giáo viên đánh giá sát đúng trình độ học sinh với thái độ khách quan, công minh và hướng dẫn học sinh biết tự đánh giá năng lực của mình;

+ Trong quá trình dạy học, cần kết hợp một cách hợp lý hình thức tự luận với hình thức trắc nghiệm khách quan trong KTĐG kết quả học tập của học sinh, chuẩn bị tốt cho việc đổi mới các kỳ thi theo chủ trương của Bộ GDĐT.

+ Thực hiện đúng quy định của Quy chế Đánh giá học sinh THPT do Bộ GDĐT ban hành, tiến hành đủ số lần kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ, kiểm tra học kỳ cả lý thuyết và thực hành.

Đối với một số môn khoa học xã hội và nhân văn như: Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân, cần coi trọng đổi mới PPDH, đổi mới KTĐG theo hướng hạn chế chỉ ghi nhớ máy móc, không nắm vững kiến thức, kỹ năng môn học. Trong quá trình dạy học, cần từng bước đổi mới KTĐG bằng cách nêu vấn đề mở, đòi hỏi học sinh phải vận dụng tổng hợp kiến thức, kỹ năng và biểu đạt chính kiến của bản thân.

Để kiểm tra đánh giá một giáo viên cần phải căn cứ vào nhiều lĩnh vực:

+ Lĩnh vực 1 : Phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị

1. Yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội ; chấp hành luật pháp Nhà nước, quy định của ngành; thực hiện chức năng, nhiệm vụ người giáo viên.

2. Yêu nghề, thương yêu, tôn trọng và đối xử công bằng với học sinh.

3. Có tinh thần trách nhiệm; có đạo đức, lối sống lành mạnh; có tinh thần hợp tác.

4. Có tinh thần phấn đấu nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.

+ Lĩnh vực 2 : Kiến thức

1. Có kiến thức khoa học cơ bản liên quan đến các môn học trong chương trình.

2. Có kiến thức về nghiệp vụ sư phạm.

3. Có hiểu biết về những chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước đối với kinh tế, văn hoá, xã hội.

4. Có kiến thức phổ thông về quản lí hành chính nhà nước, về môi trường dân số, an ninh quốc phòng, an toàn giao thông, quyền học sinh, y tế học đường.

5. Có hiểu biết về tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của địa phương trường đóng.

+ Lĩnh vực 3 : Kĩ năng sư phạm (kĩ năng giáo dục, dạy học, tổ chức)

1. Biết lập kế hoạch bài học.

2. Biết tổ chức giờ học, đảm bảo thực hiện được các mục tiêu của bài học.

3. Biết làm công tác chủ nhiệm lớp ; biết tổ chức các hoạt động giáo dục : sinh hoạt tập thể ; hoạt động ngoài giờ lên lớp ; hoạt động của Đoàn.

4. Biết giao tiếp, ứng xử với học sinh, phụ huynh học sinh, đồng nghiệp và cộng đồng.

5. Biết lập hồ sơ, lưu giữ hồ sơ và sử dụng hồ sơ vào việc giảng dạy và giáo dục học sinh.

Khi kiểm tra, đánh giá giáo viên chú trọng việc thực hiện các yêu cầu về soạn bài của giáo viên, chú ý những bài có nhiều nội dung kiến thức mới, bài khó, bài có thí nghiệm thực hành, sử dụng đồ dùng dạy học và đổi mới phương pháp dạy học.

Trong giảng dạy không nên coi trọng việc “cháy giáo án” mà nên chú trọng qua tiết học đó giáo viên đã tổ chức hoạt động dạy học như thế nào? Có bám sát chuẩn kiến thức hay không? học sinh đã học được những gì? đã rèn luyện được những kỹ năng nào? các em có hiểu và vận dụng được kiến thức đã học hay không ...

Đánh giá kết quả học tập của học sinh: Trong đánh giá kết quả học tập của học sinh không chỉ đánh giá kết quả cuối cùng mà chú ý cả quá trình học tập. Tạo điều kiện cho học sinh cùng tham gia xác định các tiêu chí đánh giá kết quả học tập. Trong đó cần chú ý: Không tập trung vào khả năng tái hiện tri thức mà chú ý khả năng vận dụng tri thức trong việc giải quyết các nhiệm vụ phức hợp.

Tăng cường các hình thức và phương pháp đánh giá: trong giờ, ngoài giờ, chính thức, không chính thức; qua sản phẩm, báo cáo; kết hợp định tính và định lượng. Sử dụng phối hợp các hình thức. Học sinh tự đánh giá; Tập thể học sinh (nhóm, tổ, lớp) đánh giá; Giáo viên đánh giá. Phối hợp các phương pháp kiểm tra, đánh giá khác nhau; kết hợp giữa tự luận và trắc nghiệm khách quan.

Có một câu hỏi thường nảy sinh: Trong hai phương pháp TNKQ và tự luận, phương pháp nào tốt hơn? Cần phải khẳng định ngay rằng không thể nói phương pháp nào hoàn toàn tốt hơn ; mỗi phương pháp có các ưu điểm và nhược điểm nhất định.

Trước hết một đề thi TNKQ bao gồm rất nhiều câu hỏi, mà việc tạo nên mỗi câu hỏi đòi hỏi rất nhiều công sức và sự khéo léo, do đó để ra một đề thi TNKQ, cần nhiều thời gian hơn so với ra một đề thi tự luận chỉ với một vài câu hỏi. Đề thi TNKQ cũng không đánh giá được khả năng diễn đạt của thí sinh như đề tự luận, vì để làm đề thi TNKQ, thí sinh chỉ cần đánh dấu khi lựa chọn phương án trả lời hoặc chỉ điền một vài từ cần thiết. Đề thi TNKQ cũng không đánh giá được tư duy hình tượng của thí sinh như qua các áng văn, bài thơ.

Sự khác nhau quan trọng nhất giữa phương pháp TNKQ và tự luận là ở tính khách quan. Đối với đề tự luận, kết quả chấm thi phụ thuộc rất nhiều vào chủ quan của người chấm, do đó rất khó công bằng, chính xác.

Qua nghiên cứu, có thể thấy rằng cả hai phương pháp - TNKQ và tự luận đều là những phương pháp hữu hiệu để đánh giá kết quả học tập. Cần nắm vững bản chất từng phương pháp và công nghệ triển khai cụ thể để có thể sử dụng mỗi phương pháp đúng lúc, đúng chỗ.

Đánh giá kết quả học tập bằng phương pháp tự luận nên dùng trong các trường hợp sau :

1) Khi thí sinh không quá đông ;

2) Khi muốn khuyến khích và đánh giá cách diễn đạt ;

3) Khi muốn tìm hiểu ý tưởng của học sinh.

4) Khi tin tưởng khả năng chấm bài tự luận của giáo viên là chính xác ;

5) Khi không có thời gian soạn đề nhưng có đủ thời gian để chấm bài.

Phương pháp TNKQ nên dùng trong những trường hợp sau :

1) Khi số thí sinh rất đông ;

2) Khi muốn chấm bài nhanh ;

3) Khi muốn có điểm số đáng tin cậy, không phụ thuộc vào người chấm bài;

4) Khi phải coi trọng yếu tố công bằng, vô tư, chính xác và muốn ngăn chặn sự gian lận trong thi cử ;

5) Khi muốn kiểm tra một phạm vi hiểu biết rộng, muốn ngăn ngừa nạn học tủ, học vẹt và giảm thiểu sự may rủi.

Để kiểm tra đánh giá học sinh

Trong quá trình đánh giá kết quả hoạt động học tập ở các môn học ở mỗi lớp cần phải:

+ Căn cứ vào chuẩn kiến thức và kỹ năng của từng môn học ở từng lớp; yêu cầu cơ bản cần đạt về kiến thức, kỹ năng, thái độ của học sinh.

+ Phối hợp đánh giá thường xuyên và đánh giá định kỳ, giữa đánh giá của giáo viên và tự đánh giá của học sinh, giữa đánh giá của nhà trường và đánh giá của gia đình và cộng đồng.

+ Xây dựng công cụ đánh giá thích hợp nhằm đánh giá toàn diện, công bằng, trung thực, có khả năng phân loại tích cực, giúp học sinh sửa chữa thiếu sót kịp thời.

+ Căn cứ vào đặc điểm từng môn học và hoạt động giáo dục đánh giá học sinh bằng cách cho điểm hoặc xếp loại: Tốt, Khá, Trung bình, Yếu, Kém.

3.2.5. Động viên khen thưởng

Đây là sự ghi nhận của lãnh đạo trường đối với sự nổ lực của cán bộ giáo viên và cũng là yếu tố tinh thần để khích lệ CBGV cống hiến sức mình cho việc nâng cao chất lượng. Khi thực hiện khen thưởng không nên dàn trải cần thực hiện việc khen thưởng đúng người, đúng việc có sự chọn lọc, với quan điểm xứng đáng, kịp thời. Nếu nhà trường không đủ kinh phí để thực hiện việc khen thưởng cần phải huy động cộng đồng hỗ trợ công tác này như các tổ chức Hội cha mẹ học sinh, Hội khuyến học, các nhà hảo tâm ...

3.2.6. Huy động cộng đồng tham gia xây dựng và phát triển nhà trường

 Nếu làm tốt công tác XHHGD sẽ huy động các lực lượng tham gia góp phần phát triển cơ sở vật chất và cải thiện chất lượng dạy học  của nhà trường. Để làm tốt điều này phải thực hiện một số giải pháp chủ yếu, cơ bản sau đây:

1. Tổ chức tốt công tác tuyên truyền thông qua họp phụ huynh học sinh, hội nghị CBGV NV, hội nghị chuyên đề ... tuyên dương kịp thời các điển hình tích cực, tiên tiến. Mục đích cải thiện điều kiện học tập của học sinh, đổi mới cách dạy của thầy và cách học của trò.

Để hạn chế học sinh ngồi nhầm lớp, học sinh lưu ban cần nhà trường tổ chức dạy phụ đạo, tăng cường cho học sinh ngoài sự vận động của nhà trường và công đoàn giáo viên giảng dạy “Lớp chuẩn kiến thức” không thu tiền học sinh để phụ đạo đối tượng học sinh yếu kém còn phải tổ chức các lớp “học tăng cường” cho tất cả học sinh để củng cố, nâng cao kiến thức đã học nhưng kinh phí do hội cha mẹ học sinh vận động quyên góp.

Đối với trường THPT BC Trần Bình Trọng thì công tác huy động cộng đồng trong thời gian qua là thực sự cần thiết vì tất cả các khoản chi lương, phụ cấp và hoạt động của trường chủ yếu dựa vào nguồn thu từ học sinh.

2. Tạo lập uy tín, niềm tin đối với phụ huynh, cấp uỷ Đảng, chính quyền và cộng đồng địa phương, thông qua việc khẳng định uy tín, chất lượng của nhà trường. Sự tạo lập uy tín phải bằng chính nội lực của mỗi giáo viên, sự phấn đấu của mỗi một thầy, cô giáo biến quá trình giảng dạy thành quá trình tự học của học sinh.

3. Phát huy vai trò của giáo viên chủ nhiệm. Giáo viên chủ nhiệm có vai trò quan trọng trong sự kết hợp giữa phụ huynh học sinh và nhà trường. Vì vậy, việc bố trí giáo viên dạy giỏi, dạy tốt làm công tác chủ nhiệm lớp tạo uy tín đối với phụ huynh học sinh là điều kiện tốt để phụ huynh đóng góp và tham gia xây dựng nhà trường. Cần chú trọng việc thường xuyên liên lạc giữa GVCN và PHHS về kết quả học tập, rèn luyên của học sinh

4. Tận dụng những kinh nghiệm và tri thức của phụ huynh, vận động họ tham gia vào các hoạt động của nhà trường, tham gia huy động cộng đồng (phát huy ở họ không chỉ là vai trò đối tượng huy động mà cả vai trò chủ thể huy động). Cử mỗi vị trong ban đại diện hội cha mẹ học sinh phụ trách một xã để phối hợp cùng nhà trường thực hiện nhiệm vụ giáo dục và vận động học sinh bỏ học đi học lại.

5. Làm tốt công tác tham mưu cho lãnh đạo địa phương: Có thể nói chính quyền địa phương là chỗ dựa cho việc triển khai huy động cộng đồng, nơi có thể tạo lập môi trường lành mạnh cho giáo dục, vận động toàn dân chăm sóc thế hệ trẻ, gắn kết giữa nhà trường gia đình và xã hội trong công tác giáo dục đào tạo nói chung. Tuy nhiên cần chú ý đến việc nhà trường chủ động tham gia các hoạt động của địa phương, tổ chức các hoạt động phối kết hợp

Tóm lại: Có thể nói XHHGD là một quá trình hoạt động cộng đồng để xây dựng một xã hội học tập, một cộng đồng trách nhiệm. Người hiệu trưởng trong công tác quản lý cần thường xuyên bồi dưỡng và tự bồi dưỡng để làm tốt vai trò của mình trong môi trường xã hội địa phương để kích thích sự tham gia của cộng đồng địa phương cho sự phát triển của nhà trường.

Do thực hiện tốt việc huy động cộng đồng tham gia xây dựng và phát triển nhà trường mà trong năm 2007 Uỷ ban nhân dân huyện Phú Hoà đã hỗ trợ cho trường 100 triệu đồng để xây dựng thêm 04 phòng học chức năng ngoài kinh phí do ngân sách nhà nước cấp 550 triệu. Hội Cha mẹ học sinh cũng đã đứng ra huy động và xây dựng cho trường một nhà tập thể dục cho học sinh với số tiền gần 30 triệu đồng. Hội cha mẹ học sinh đã trích gần 3 triệu đồng để tặng thưởng cho CBGV và HS có những thành tích xuất sắc trong dạy và học. Mỗi năm Hội cha mẹ học sinh đã dành khoản 3 triệu đồng để mua sách cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn mượn học và treo giải thưởng 4 triệu đồng cho giáo viên giảng dạy có học sinh giỏi cấp tỉnh, có tỉ lệ học sinh khối 12 đỗ tốt nghiệp cao. Trong năm học Ban chấp hành Hội CMHS đã phân công phụ trách các thành viên phụ trách các địa bàn thôn, xã hoặc đến các lớp để phối hợp giáo dục học sinh, vận động học sinh tham gia học phụ đạo để đảm bảo chuẩn trình độ, khắc phục tình trạng học sinh ngồi nhầm lớp và vận động các em đã bỏ học đi học lại....

Trong năm 2008 với sự quan tâm hỗ trợ về mặt tài chính của Sở giáo dục, của UBND tỉnh nhà trường đã giải quyết dứt điểm các khoản nợ tồn đọng kéo dài tạo được khí thế mới cho CBGV của trường

* TIỂU KẾT CHƯƠNG III:

Để nâng cao hiệu quả chất lượng dạy học của trường phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Phát huy nội lực là chủ yếu, cùng với sự kiểm tra, chỉ đạo sâu sát , hiệu trưởng cần huy động các nguồn lực bên ngoài để mọi lực lượng tham gia phát triển nhà trường, cải thiện môi trường học tập, nâng cao chất lượng. Để làm được điều này đòi hỏi người hiệu trưởng phải có một số kỹ năng nhất định kết hợp với sự sáng tạo  trong quản lý để phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và đặc thù của nhà trường.

Nhờ có sự đổi mới quản lý hoạt động dạy và học nên trong năm học 2007-2008 tỉ lệ học sinh của trường thi đỗ tốt nghiệp THPT 176/313 thí sinh đăng ký dự thi chiếm tỉ lệ: 56,23% so với năm học trước tăng 2,51%, Đại học-Cao đẳng đã tăng 7% so với năm học 2006-2007. Số học sinh đỗ ĐH-CĐ 56/143 học sinh thi đỗ tốt nghiệp lần 1 chiếm tỉ lệ: 35%. Đặc biệt là có 2 học sinh dự thi 3 trường đại học cao đẳng đều đỗ 3 trường và 7 học sinh thi 2 trường ĐH-CĐ đỗ 2 trường. Trong năm 2009 Với kết quả 8/9 giáo viên trẻ của trường tham gia Hội giảng thay sách giáo khoa đạt loại giỏi, 6 học sinh đạt giải trong kỳ thi học sinh giỏi TNTH, học sinh đỗ tốt nghiệp 178/397 (tỷ lệ 45% xếp vị thứ 23/29 trường THPT có học sinh dự thi) và có 89 em đỗ ĐH-CĐ. Học sinh của trường đã có sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức học tập. Trong năm 2010 với ý thức học tập của học sinh tốt hơn chắc chắn tỉ lệ học tập của học sinh sẽ nâng cao hơn so với các năm trước.

Tuy khó khăn chồng chất, nhưng nhờ vào sự đồng lòng, năng động, nhiệt huyết với nghề của lực lượng cán bộ giáo viên của trường, sự hỗ trợ đắc lực của Hội cha mẹ học sinh, sự quan tâm của chính quyền địa phương, của ngành kết hợp sự năng động của người quản lý đã cải thiện được chất lượng dạy và học, tạo đà cho việc nâng cao chất lượng cho những năm tiếp theo.

 


KẾT LUẬN

 

1. KẾT LUẬN

Thế kỷ XXI là thế kỷ của “Tri thức-khoa học và công nghệ”. Loài người đang chứng kiến những biến đổi to lớn của thế giới và những diễn biến phức tạp về chính trị và kinh tế. Để tránh nguy cơ tụt hậu cần phải có sự đầu tư cho giáo dục và thực sự xem “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Nhằm đào tạo nguồn nhận lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá của đất nước. Để đáp ứng yêu cầu mới người hiệu trưởng phải “thay đổi sự quản lý  để “quản lý sự thay đổi”.

Trong hai năm học vừa qua với việc thực hiện các biện pháp quản lý của hiệu trưởng trường THPT BC Trần Bình Trọng tạo được sự chuyển biến tích cực nền nếp dạy học của giáo viên và học sinh, tạo được nền móng vững chắc cho việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường trong thời gian đến.

2. KIẾN NGHỊ

            - Đối với Bộ GD&ĐT, UBND tỉnh và Sở GD-ĐT Phú Yên cần có một số văn bản quy định cụ thể về việc chuyển đổi loại hình trường bán công sang công lập, hình thức tuyển sinh, khu vực tuyển sinh, những quy định về tổ chức hoạt động và cơ chế quản lý tự chủ, các chính sách về tài chính, đào tạo cán bộ giáo viên hiện nay.

          - Chuyển tất cả CBGV NV của trường vào biên chế khi trường chuyển sang loại hình trường công lập.

          - Hàng năm ngoài kinh phí chi lương cho CBGV NV cần tăng cường thêm các nguồn chi thường xuyên, đầu tư CSVC để đáp ứng nhu cầu dạy và học nâng cao chất lượng.

          Với những vấn đề lý luận, thực tiễn, các giải pháp chủ yếu và những biện pháp quản lý hoạt động dạy học nêu trên, tôi hy vọng sẽ cải thiện đáng kể chất lượng dạy học của trường THPT BC Trần Bình Trọng, thiết thực góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục THPT.

Với thời gian làm công tác quản lý chỉ mới vài năm, chắc chắn rằng sự hiểu biết, kinh nghiệm quản lý còn hạn chế và bài viết này không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy cô để trong công tác quản lý của bản thân ngày được hoàn thiện hơn.

Xin Chân thành cảm ơn!

                                                                       Phú Hoà, ngày 10  tháng 3  năm 2010

                                                                                 Người viết

 

 

 

                                                                                                            Trương Hải Tân

 
 
      THÔNG TIN MỚI CẬP NHẬT
 Ôn tạp thi HKII[ 17.04.2014 ]
      TIN TỨC- SỰ KIỆN MỚI
+ Một số hình ảnh Trường THPT Trần Bình Trọng bàn giao số tiền mặt cho 02 hộ nghèo thôn Vĩnh Phú, xã Hòa An, huyện Phú Hòa
+ Kết thúc môn thi cuối kỳ thi Đại học, sỹ tử dễ thở với đề Hóa
+ Cựu sinh viên 8 năm tham gia tiếp sức mùa thi
+ Tình nguyện viên các trường ĐH, CĐ tham dự lễ ra quân chương trình Tiếp sức mùa thi 2014
+ Chương trình “Tiếp sức mùa thi” tuyển sinh ĐH, CĐ 2014 đã khởi động.
+ Thủ khoa 30 điểm khối A chia sẻ bí kíp thi đại học
+ Thủ khoa khối A khuyên gì trước kỳ tuyển sinh đại học?
 
      DANH NGÔN
 

 "Không có quyển sách nào hay đối với người dốt, không có quyển sách nào dở đối với người khôn". Didereaux

 
   
 

“Không có tài sản nào quí bằng trí thông minh, không vinh quang nào lớn hơn học vấn và hiểu biết”. E.Zola 

 
   
  Chúng ta không thể dạy bảo cho ai bất cứ điều gì, chúng ta chỉ có thể giúp họ phát hiện ra những gì còn tiềm ẩn trong họ”. Galileo  
   
 

 "Đừng xấu hổ khi không biết, chỉ xấu hổ khi không học ." Khuyết Danh 

 
   
 

 

Học tập là hạt giống của kiến thức, kiến thức là hạt giống của hạnh phúc

Ngạn ngữ Gruzia

 

 

 
   
 
      TRA CỨU THÔNG TIN
 
      THÔNG TIN TRUY CẬP
150672